Hơn 200 xe tải không người lái đang chạy ngày đêm giữa sa mạc Gobi. Chúng thuộc một cụm mỏ than lộ thiên khổng lồ ở Tân Cương, Trung Quốc. Câu chuyện này cho thấy tự động hóa đã đi xa tới mức nào trong ngành khai thác.

Hai “siêu mỏ” giữa sa mạc Gobi và con số 80 triệu tấn mỗi năm
Tại khu vực Chuẩn Đông thuộc Tân Cương (Trung Quốc), Tập đoàn Năng lượng Thiên Trì Tân Cương đang vận hành hai mỏ than lộ thiên rất lớn. Đó là mỏ Đại Tỉnh Nam và mỏ Tướng Quân số 2, cả hai đều nằm trong sa mạc Gobi. Sau khi điều chỉnh quy hoạch khai thác, tổng công suất của cụm mỏ đạt khoảng 80 triệu tấn than mỗi năm. Nhờ vậy, nơi đây trở thành một trong những khu khai thác than lộ thiên có sản lượng lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, điều gây chú ý không chỉ là quy mô tài nguyên. Mức độ tự động hóa ở đây mới là phần đáng bàn hơn. Theo People’s Daily, đến cuối năm 2025, riêng mỏ Đại Tỉnh Nam đã đưa vào vận hành hơn 200 xe tải khai thác không người lái. Con số đó giúp khu mỏ trở thành một trong những nơi ứng dụng tự động hóa sâu nhất Trung Quốc.
Mỏ Đại Tỉnh Nam có diện tích khoảng 45,8 km², tương đương gần 6.400 sân bóng đá. Trữ lượng than tại đây được ước tính khoảng 3,38 tỷ tấn. Đây cũng là mỏ than lộ thiên đang hoạt động có công suất khai thác được phê duyệt lớn nhất Trung Quốc, đạt 40 triệu tấn mỗi năm. Ngoài ra, mỏ còn được xem là mỏ than thông minh kiểu mẫu đầu tiên của Tân Cương.
Dự án thuộc Công ty TNHH Năng lượng Thiên Trì Tân Cương, doanh nghiệp do Tập đoàn TBEA kiểm soát. Mỏ chính thức đi vào vận hành từ cuối năm 2020. Đến cuối năm 2022, mỏ bắt đầu khai thác thường xuyên với lượng nhân lực đã được cắt giảm đáng kể. Phần việc giảm đi đó chủ yếu nhờ các hệ thống điều khiển và vận hành tự động.

Hơn 200 xe tải không người lái làm việc liên tục theo lộ trình
Ngay cạnh Đại Tỉnh Nam là mỏ Tướng Quân số 2, quy mô còn lớn hơn. Khu mỏ này rộng khoảng 87 km², tương đương gần 12.700 sân bóng đá. Trữ lượng than có thể khai thác lên tới 3,7 tỷ tấn. Một số vỉa than tại đây dày trên 40 m, xấp xỉ chiều cao một tòa nhà 13 tầng.
Theo số liệu công bố, tổng tài nguyên của mỏ đạt 4,573 tỷ tấn. Công suất khai thác được phê duyệt hiện ở mức 30 triệu tấn mỗi năm. Vì vậy, mỏ này nằm trong nhóm 10 mỏ than lộ thiên có sản lượng lớn nhất Trung Quốc. Quy mô ấy cũng giải thích vì sao chủ đầu tư mạnh tay với công nghệ tự động.
Tại công trường, các xe tải không người lái chạy liên tục theo lộ trình đã được lập trình sẵn. AI đảm nhiệm việc điều phối đội xe, tính toán đường đi và xử lý tình huống trên tuyến. Nhờ vậy, nhu cầu nhân lực giảm xuống rõ rệt so với cách vận hành truyền thống. Bên cạnh đó, mức độ an toàn trong môi trường khai thác quy mô lớn cũng được nâng lên.
Theo Sở Tài nguyên Thiên nhiên Tân Cương, việc điều chỉnh chủ thể khai thác hoàn tất trong năm 2024. Sau bước này, tổng công suất của cụm mỏ Đại Tỉnh Nam và Tướng Quân số 2 được nâng lên 80 triệu tấn mỗi năm. Trên thế giới, chỉ một số mỏ than tại bang Wyoming (Mỹ) có quy mô tương đương. Chẳng hạn, mỏ North Antelope Rochelle từng đạt hơn 98 triệu tấn vào năm 2018, còn Black Thunder khai thác khoảng 71 triệu tấn mỗi năm.

Từ cabin có người giám sát đến cabin trống hoàn toàn
Hành trình tự động hóa ở Tướng Quân số 2 diễn ra khá nhanh. Từ tháng 8/2023, mỏ bắt đầu thử nghiệm đội xe khai thác không người lái. Chỉ sau chưa đầy một tháng, mỏ đã triển khai thành công mô hình “không cần nhân viên an toàn ngồi trong cabin”. Hiện khu mỏ có khoảng 40 xe tải tự lái hoạt động ổn định.
Chi tiết trên đáng chú ý hơn vẻ ngoài của nó. Trong nhiều dự án xe tự lái, giai đoạn khó nhất không phải là cho xe chạy được. Khó nhất là gỡ bỏ được người giám sát ngồi kèm trong cabin. Chừng nào còn một người ngồi đó, phần chi phí nhân sự tiết kiệm được vẫn gần như bằng không.
Đến tháng 8/2024, mỏ chính thức được công nhận là mỏ than thông minh cấp trung. Nhiều khâu sản xuất tại đây đã được số hóa và điều khiển tự động. Toàn bộ hoạt động được quản lý trên một nền tảng số dùng chung. Nói cách khác, xe không người lái chỉ là phần dễ thấy nhất của một hệ thống lớn hơn nhiều.

“Thủ phủ than” Tân Cương và động lực phía sau làn sóng tự động hóa
Tân Cương được xem là “thủ phủ than” của Trung Quốc. Khu vực này sở hữu trữ lượng than dự báo khoảng 2.190 tỷ tấn, chiếm gần 40% tổng trữ lượng cả nước. Riêng bồn than Chuẩn Đông có khoảng 390 tỷ tấn và là bồn than liền khối lớn nhất Trung Quốc. Đặc điểm của bồn than này là vỉa dày, nằm gần mặt đất và chi phí khai thác thấp.
Nhờ lợi thế đó, sản lượng than của Tân Cương tăng rất nhanh vài năm gần đây. Năm 2024, khu vực đạt khoảng 540 triệu tấn, tăng 17,5% so với năm trước. Năm 2025, con số này lên khoảng 570 triệu tấn. Lượng than chuyển ra ngoài khu vực bằng đường sắt cũng đã vượt 100 triệu tấn.
Hiện khoảng 70% điện năng của Tân Cương vẫn đến từ nhiệt điện than. Song song, hàng loạt dự án hóa chất từ than với tổng vốn khoảng 500 tỷ NDT đang được triển khai. Áp lực sản lượng vì thế rất lớn và liên tục. Đó chính là lý do kinh tế đứng sau việc đưa hơn 200 xe tải không người lái vào một khu mỏ.
Rõ ràng, tự động hóa ở đây không xuất phát từ mong muốn trưng bày công nghệ. Nó bắt đầu từ một bài toán vận hành rất cụ thể. Khối lượng phải bốc xúc và vận chuyển quá lớn để phụ thuộc vào ca kíp con người. Khi máy có thể chạy 24/7 mà không cần nghỉ, phép tính đầu tư trở nên dễ hiểu.

Góc nhìn từ Roboworld
Câu chuyện ở Chuẩn Đông cách Việt Nam rất xa về quy mô. Không nhà máy nào ở ta cần tới 200 xe tải trăm tấn. Tuy nhiên, nguyên lý đằng sau lại giống nhau đến mức đáng suy ngẫm. Tự động hóa vận chuyển thường bắt đầu ở những tuyến đường lặp lại nhiều lần mỗi ngày.
Trong một nhà xưởng hay một kho hàng, các tuyến lặp lại đó rất dễ nhận ra. Đó là đường tiếp liệu vào chuyền, đường chuyển bán thành phẩm giữa các xưởng, đường gom hàng ra khu xuất. Những tuyến này ít thay đổi, khối lượng đều và gần như không đòi hỏi phán đoán phức tạp. Vì vậy, chúng thường là nơi robot vận chuyển công nghiệp phát huy giá trị sớm nhất.
Bài học thứ hai nằm ở chi tiết “cabin trống”. Một dự án tự động hóa chỉ thực sự tạo ra hiệu quả khi con người rời khỏi vòng lặp thao tác. Nếu vẫn phải cắt một người đi kèm để canh máy, phần tiết kiệm sẽ tan biến. Do đó, tiêu chí đánh giá đáng tin nhất không phải là robot chạy được, mà là robot chạy được một mình.
Bài học thứ ba là dữ liệu. Ở Tướng Quân số 2, đội xe tự lái chỉ là một phần của nền tảng số quản lý toàn mỏ. Với nhà máy Việt Nam, điều tương tự cũng đúng ở quy mô nhỏ hơn nhiều. Các dòng robot vận chuyển hàng hóa trong nhà máy ngày nay đều ghi lại số chuyến, thời gian di chuyển và điểm tắc nghẽn, giúp người quản lý thấy rõ dòng chảy vật tư thay vì phỏng đoán.
Cuối cùng, hơn 200 xe tải không người lái ở Tân Cương là một cột mốc dễ gây choáng ngợp. Nhưng nó không xuất hiện sau một đêm. Mỏ đã đi từ vài xe thử nghiệm, rồi bỏ người giám sát trong cabin, rồi mở rộng dần đội xe. Lộ trình từng bước đó có lẽ là điều đáng học nhất, kể cả với một xưởng sản xuất chỉ vài nghìn mét vuông.

















